Phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường


Câu 1: Phân biệt hàng hóa sức lao động và hàng hóa thông thường?

 Hàng hóa bình thường

Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị.

     Về mặt giá trị sử dụng: tức hình thái tự nhiên của hàng hóa, có thể nhận biết trực tiếp bằng giác quan.

      Về mặt giá trị: tức hình thái xã hội của hàng hóa, nó không có một nguyên tử vật chất nào nên dù cho người ta có lật đi lật lại mãi một hàng hóa, thì cũng không thể sờ thấy,nhìn thấy giá trị của nó.Giá trị chỉ có một tính hiện thực thuần túy xã hội, và nó chỉ biểu hiện ra cho người ta thấy được trong hành vi trao đổi, nghĩa là trong mối quan hệ hàng hóa với nhau.

 Hàng hóa sức lao động

Sức lao động (năng lực lao động) là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể con người đang sống và được người đó sử dụng vào sản xuất hàng hóa
Trong mọi xh, sức lao động đều là yếu tố của sx nhưng sức lao động chỉ trở thành hàng hoá với hai điều kiện sau:

     Người lao động được tự do về thân thể, tức là có quyền tự chủ về sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định,
Người lao động ko có TLSX, ko có khả năng bán cái gì ngoài sức lđ.
 Hàng hoá sức lđ:

-Hàng hoá slđ là một hàng hoá đặc biệt,mà giá trị sử dụng của nó có đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị. Nó cũng có 2 thuộc tính giống hàng hóa khác là giá trị và giá trị sử dụng.

-Giá trị của hàng hoá slđ cũng do thời gian lao động xã hội cần thiết lượng để sx và tái sx ra slđ quyết định. Cho nên giá trị của hàng hoá slđ được xác định gián tiếp qua giá trị những hàng hoá tiêu dùng mà người lao động dùng để tái sản xuất slđ để nuôi sống gia đình và chi phí học tập.

- Giá trị sử dụng của hàng hoá slđ là khả năng thực hiện 1 loại lao động cụ thể nào đó và được thể hiện ra trong quá trình lao động. Giá trị sử dụng của slđ phải phù hợp với yêu cầu của người sử dụng slđ.

2. So sánh hàng hoá slđ với hàng hoá thông thường

+ Giống nhau: đều là hàng hoá và cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng.

+ Khác nhau :

Về mặt giá trị:

         Giá trị hàng hoá slđ bao gồm cả yếu tố tinh thần, vật chất và phụ thuộc vào đk lịch sử, đk sx của mỗi quốc gia…nghĩa là ngoài những nhu cầu về vật chất,người công nhân còn có những nhu cầu về tinh thần, văn hóa…Những nhu cầu đó phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử của mỗi nước ở từng thời kì, đồng thời nó còn phụ thuộc cả vào điều kiện địa lý, khí hậu của nước đó.

Giá trị slđ ko cố định : tăng lên khi nhu cầu trung bình về hàng hoá, dịch vụ của con người tăng và yêu cầu kỷ thuật lao động tăng; Giảm khi năng suất lao động xh tăng làm giảm giá trị hàng hoá tiêu dùng.

Về mặt giá trị sử dụng:

        Hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao động lại là quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đồng thời là quá trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động (đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt                    =>giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức nó có thể tao ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó.

Trong quan hệ mua và bán:

        Hàng hóa thông thường là những sản phẩm hoàn chỉnh được tạo ra trong quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản xuất (mùa vụ)

Hàng hóa sức lao động có những đặc điểm sau:

  • Ø Chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu và bán trong một thời gian nhất định thông qua các hợp đồng.
  • Ø Mua bán chịu:Giá trị sử dụng thực hiện trước (bắt lao động) ,giá trị thực hiện sau (trả công sau).
  • Ø Chỉ có phía người bán là công nhân làm thuê và phía người mua là các nhà tư bản,không có ngược lại.
  • Ø Giá cả của sức lao động (tiền công) luôn thấp hơn so với giá trị sức lao động bởi vì đối với người công nhân, lao động là phương tiện sinh sống duy nhất vì vậy phải bán sức lao động trong mọi điều kiện.

Câu 2: Hãy cho biết quan điểm của chủ nghĩa Mác lê-nin về vấn đề dân tộc. Đảng và nhà nước ta đã làm gì để tăng cường ,củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Quan điểm của chủ nghĩa Mac lê-nin về vấn đề dân tộc:

Dân tộc là vấn đề rộng lớn, bao gồm những quan hệ về chính trị, kinh tế, lãnh thổ, pháp lý, tư tưởng và văn hóa giữa các dân tộc, các nhóm dân tộc và bộ tộc.
– Theo quan điểm của CNMLN, dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử.

       – Hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của dân tộc TBCN. CNTB bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành chính sách vũ trang xâm lươc, cướp bóc, nô dịch các dt nhỏ từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa. Mác nêu lên quan điểm cơ bản có tính chất phương pháp luận để nhận thức và giải quyết vấn đề nguồn gốc, bản chất của dân tộc, những quan hệ cơ bản của dân tộc, thái độ của giai cấp công nhân và Đảng của nó về vấn đề dân tộc.
– Lênin đã phát triển quan điểm này thành hệ thống lý luận toàn diện và sâu sắc về dân tộc, làm cơ sở cho cương lĩnh, đường lối, chính sách của các đảng cộng sản về vấn đề dân tộc.

       – Sự phát triển của vấn đề dt, theo Lênin có 2 xu hướng trong điều kiện của CNTB:
+ Sự thức tỉnh ý thức dt, phong trào đấu tranh chống ap bức dt sẽ dẫn đến hình thành các quốc gia dt độc lập.

+ Với việc tăng cường và phát triển các mối quan hệ giữa các dt sẽ dẫn tới việc phá hủy hàng rào ngăn cách giữa các dt, thiết lập sự thống nhất quốc tế của CNTB, của đời sống KT-CT-XH . . .

Trong bối cảnh quốc tế và khu vực phức tạp như hiện nay thì việc nghiên cứu về vấn đề này càng trở nên cấp thiết và được nhiều quốc gia quan tâm.
Thứ nhất, vấn đề dân tộc là vấn đề chính trị – xã hội quan trọng.Mỗi quốc gia có giải quyết tốt vấn đề này hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hóa – xã hội, thậm chí nó cũng góp phần tạo nên chiến tranh hay hòa bình, tồn tại hay diệt vong của chính quốc gia đó.
Thứ hai, vấn đề dân tộc hiện nay đang trở thành một trong những vấn đề toàn cầu được cả thế giới quan tâm. Đó là những vấn đề nóng bỏng, phức tạp, bức xúc, đòi hỏi sự chung sức của cả cộng đồng quốc tế chứ không thể của riêng một quốc gia nào.

      Thứ ba, cho đến tận bây giờ thì xung quanh vấn đề dân tộc vẫn còn tồn tại nhiều khuynh hướng, quan điểm khác nhau, thậm chí là đối lập nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề để rút ra con đường đi thích hợp trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc của mỗi quốc gia là rất cần thiết, đặc biệt với nước ta hiện nay.
Thứ tư, bối cảnh khu vực và quốc tế đang có nhiều biến động phức tạp sẽ là cơ hội cho các thế lực phản động, thù địch với  tiến bộ xã hội, với độc lập dân tộc và CNXH không ngừng chống phá trên nhiều phương diện, đặc biệt là vấn đề dân tộc.

      Thứ năm, trong quá trình xây dựng CNXH hiện thực ở nước ta cũng như các nước XHCN khác thì vẫn có những nhận thức không triệt để, đúng đắn vấn đề dân tộc, vì vậy dẫn đến những sai lầm khi giải quyết các vấn đề dân tộc.

Những chính sách của Đảng ta hiện nay trong việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc:             

       Đại đoàn kết các dân tộc anh em trên toàn lãnh thổ Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Lịch sử đã ghi nhận những công lao đóng góp to lớn của các dân tộc thiểu số trong việc đánh thắng quân xâm lược. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, nhiều khu vực cư trú chủ yếu của đồng bào các dân tộc thiểu số trở thành căn cứ địa vững chắc của cách mạng như Việt Bắc, Đông Nam bộ và Tây Nguyên … Đảng ta luôn đặc biệt chú ý đến việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và chăm lo giải quyết tốt các mối quan hệ giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Hiện nay, mối quan hệ giữa các dân tộc anh em ở nước ta rất tốt đẹp. Tuy nhiên không phải là không có những cơ sở để cho các thế lực thù địch khai thác, lợi dụng để gây ra tình trạng căng thẳng trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Những yếu tố đó một phần do lịch sử để lại, một phần do kẻ thù gây ra trước đây, nhưng cũng có một số vấn đề do sai lầm của cán bộ ta trong việc thi hành chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Để loại trừ những nguyên nhân này, chúng ta phải thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đặt ra với các vùng miền gặp nhiều khó khăn, vùng núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và phải đặc biệt quan tâm đến đồng bào các dân tộc đang ở vùng trước đây là căn cứ cách mạng và phải tiếp tục thực hiện chính sách ưu tiên đào tạo bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, chống sự kì thị, chia rẽ dân tộc.

         Đoàn kết các dân tộc là nguyên tắc nhất quán xuyên suốt quá trình hoạch định chính sách dân tộc của Đảng, nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, phát huy sức mạnh truyền thống và hiện đại ; sức mạnh tinh thần và vật chất ; tài nguyên, tiền vốn và đặc biệt là sức mạnh của con người. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc bao gồm đoàn kết trong Đảng, đoàn kết các tầng lớp nhân dân và đoàn kết quốc tế. Đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại ngày nay không chỉ dựa trên cơ sở thống nhất lợi ích chung là xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà còn phải biết phát huy các giá trị truyền thống quý báu của mỗi thành viên, của từng dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một bộ phận của đường lối đổi mới, là thành quả của công cuộc đổi mới. Chính vì vậy, đại đoàn kết đã trở thành mục tiêu và động lực của tiến trình phát triển đất nước.

         Tương trợ, giúp đỡ nhau cùng phát triển giữa các dân tộc là thể hiện tính ưu việt trong chính sách dân tộc của Đảng ta. Nội dung tương trợ, giúp đỡ nhau bao hàm sự đoàn kết, tương trợ nhau giữa các dân tộc trong mọi mặt của đời sống xã hội, nhất là trong tổ chức cuộc sống, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong đó, sự hỗ trợ của Nhà nước có vai trò rất quan trọng, nhằm tạo cơ hội cho các dân tộc phát triển toàn diện về kinh tế – xã hội, nhanh chóng hòa nhập trong đại gia đình Việt Nam.

         Giải quyết tốt công tác dân tộc ở nước ta hiện nay nhằm thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa ở khu vực miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số là một sự nghiệp vẻ vang nhưng rất nặng nề. Sự nghiệp đó đòi hỏi toàn Đảng phải nâng cao nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện nội dung vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong tình hình mới. Việc hoạch định kế hoạch, tăng cường đầu tư, lựa chọn giải pháp phát triển đối với từng vùng miền, địa phương, ngành… phải phù hợp và hiệu quả. Có như vậy mới có thể tạo ra cơ hội để khu vực miền núi và đồng bào các dân tộc thiểu số đẩy nhanh nhịp độ giảm đói nghèo, phát triển kinh tế – xã hội, tạo tiền đề vật chất và nguồn lực con người để tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng và thực hiện là nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế – xã hội, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Những nội dung cụ thể của chính sách dân tộc được xác định gồm :

Một là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác thế mạnh của địa phương làm giàu cho mình và cho đất nước, tham gia tích cực vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

          Xác lập quyền làm chủ về đất đai gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Khắc phục cơ bản tình trạng tranh chấp đất đai và di cư tự do ở các vùng các dân tộc thiểu số hiện nay. Đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng, phát triển cây trồng, vật nuôi có ưu thế theo hướng hàng hóa với những bước đi và quy mô phù hợp ; gắn sản xuất với chế biến và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Đến năm 2010, các vùng dân tộc và miền núi cơ bản không còn hộ đói; giảm hộ nghèo xuống dưới 10% ; giảm dần khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các dân tộc, các vùng ; trên 90% hộ dân có đủ điện, nước sinh hoạt ; xóa tình trạng nhà tạm bợ, nhà dột nát. Đổi mới cơ chế quản lý thích hợp với vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và miền núi nói riêng, thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hóa làm chuyển biến cục diện kinh tế – xã hội ở vùng dân tộc, miền núi. Đầu tư đồng bộ và có trọng điểm thông qua các chương trình, dự án vào các lĩnh vực và vùng quan trọng. Xây dựng kết cấu hạ tầng cho các vùng dân tộc, miền núi, trước hết là giao thông, thông tin liên lạc, năng lượng và các công trình thủy lợi. Phấn đấu 100% số xã có đường ô-tô đến trung tâm xã. Xóa dần số xã đặc biệt khó khăn ; hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư ; chấm dứt tình trạng di cư tự do ; giải quyết cơ bản vấn đề đất sản xuất cho nông dân thiếu đất ; ngăn chặn tình trạng suy thoái môi trường sinh thái.

Cùng với sự hỗ trợ, đầu tư của Nhà nước, áp dụng các cơ chế thích hợp nhằm phát huy nội lực của đồng bào các dân tộc đóng góp vào sự nghiệp xây dựng quê hương giàu đẹp và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Hai là, có chính sách ưu tiên đặc biệt phát triển giáo dục và đào tạo, coi trọng đào tạo cán bộ và đội ngũ trí thức cho các dân tộc thiểu số.

          Nâng cao trình độ dân trí, thực hiện hiệu quả chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp ; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập, mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa và phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc ; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú ; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển con em đồng bào các dân tộc thiểu số vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Có quy hoạch, kế hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở là người dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội địa phuơng. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách ưu tiên, khuyến khích đối với cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi. Có chính sách với người có uy tín trong cộng đồng, kể cả một số chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản.

Ba là, kế thừa và phát triển giá trị văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và của từng dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

         Tôn trọng, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc. Không ngừng nâng cao mọi điều kiện để đồng bào các dân tộc được hưởng thụ các thành tựu văn hóa tiên tiến của nhân loại, kế thừa những truyền thống văn hóa tốt đẹp, đồng thời bài trừ những tập tục lạc hậu cản trở sự tiến bộ của các dân tộc. Phấn đấu để 90% số đồng bào được xem truyền hình ; 100% được nghe đài phát thanh. Có chính sách đầu tư thích đáng cho hoạt động văn hóa, văn nghệ, cho những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật dân tộc.

Bốn là, quan tâm đặc biệt đến vùng cao, vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến trước đây ; tăng cường cơ sở khám chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, thôn, ấp, nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số ; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian ; từng bước ngăn chặn tình trạng suy giảm dân số, suy giảm đời sống của một số dân tộc thiểu số.

         Bằng việc ưu tiên đầu tư thông qua các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, y tế, giáo dục, văn hóa, dân số – kế hoạch hóa gia đình… từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc. Giải quyết kịp thời những nhu cầu bức xúc về đời sống, sinh hoạt cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới như nước sinh hoạt, các mặt hàng thiết yếu (dầu lửa, muối ăn, giấy, vở học sinh, thuốc chữa bệnh, dịch vụ văn hóa…). Đẩy mạnh phong trào xây dựng gia đình văn hóa, thôn, bản, buôn, làng văn hóa.

Năm là, xây dựng chính sách phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi phải gắn chặt với chính sách an ninh – quốc phòng nhất là ở các địa bàn xung yếu, vùng sâu, biên giới ; ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội.

          Các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng khó khăn về đời sống, trình độ dân trí thấp của đồng bào và những sai sót của các cấp, các ngành trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta để kích động, chia rẽ các dân tộc nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Do đó, trong xây dựng chính sách dân tộc, phải xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng, phát triển chính sách đối với các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng quốc phòng – an ninh vững mạnh, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc chính là thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước – cơ sở phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tăng cường vận động quần chúng thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay là rất quan trọng và cần thiết ; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó vai trò công tác dân vận của các lực lượng vũ trang, của quân đội là to lớn, vẻ vang và cũng là trách nhiệm nặng nề. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác vận động đồng bào các dân tộc thiểu số là làm cho đồng bào hiểu đúng và tự giác thực hiện tốt những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện quân với dân một ý chí. Cần nắm được diễn biến tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng và phong tục tập quán của đồng bào ; giải quyết tốt những vấn đề thực tiễn đặt ra phù hợp với đặc điểm của từng dân tộc, từng vùng, tránh tư tưởng chủ quan, áp đặt, máy móc, hình thức và cách làm không phù hợp. Kết hợp chặt chẽ giữa lực lượng vũ trang với các cấp ủy, chính quyền các cấp, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong tổ chức vận động đồng bào các dân tộc thực hiện tốt nhiệm vụ xóa được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, sức khỏe cho đồng bào các dân tộc ; nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc tốt đẹp của các dân tộc ; xây dựng cơ sở chính trị rộng khắp, vững mạnh ở các vùng dân tộc.

            Coi trọng việc đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ; quán triệt phương châm : chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc ; sử dụng nhiều hình thức vận động phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương. Cán bộ, bộ đội công tác ở vùng dân tộc và miền núi phải thấm nhuần phong cách : “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Lực lượng vũ trang làm dân vận không chỉ nhằm phát huy vai trò của bản thân lực lượng vũ trang đối với nhiệm vụ chiến lược của Đảng là thường xuyên củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, chính quyền với nhân dân mà chính thông qua công tác dân vận, lực lượng vũ trang nâng cao được ý thức, tình cảm phục vụ nhân dân, phát huy bản chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là trường học thực tế tốt nhất để rèn luyện bộ đội.

Dưới ánh sáng Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy (khóa IX), chúng ta tin tưởng rằng, chính sách dân tộc của Đảng sẽ được thể chế hóa bằng pháp luật và kế hoạch nhà nước, bằng các chương trình hành động của các cấp, các ngành, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội, biến Nghị quyết của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống của đồng bào các dân tộc. Thông qua công tác vận động đồng bào các dân tộc đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với dân, làm cho đồng bào các dân tộc tin tưởng, phấn khởi gắn bó với Đảng, với chế độ, hăng hái tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

 

About these ads

About svktclub

svktclub nhận viết thuê luận văn,báo cáo,chuyên đề tốt nghiệp
This entry was posted in Luận văn, chuyên đề, khóa luận and tagged , , . Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s